Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Suy nghĩ về nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Suy nghĩ về nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

(Văn mẫu 12) Em hãy phát biểu suy nghĩ về nhân vật người đàn bà hàng chai trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Bài phân tích văn của bạn Hoàng Thị Ngọc Lan)

Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật người đàn bà hành chai trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

BÀI LÀM

       Nguyễn Minh Châu được biết đến là một trong những nhà văn tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học từ đầu thập kỉ 80 của thế kỉ XX với nhiều tác phẩm thành công như Bến quê, Phiên chợ Giát, Cỏ lau… Trong số đó, tiêu biểu cho ngòi bút nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nguyễn Minh Châu không thể không kể đến truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc lên án tình trạng bạo lực gia đình, thể hiện nỗi cảm thương với cuộc sống cơ cực của người dân chai mà còn ngợi ca đức hi sinh thầm lặng của người phụ nữ, nỗi lo âu cho nhân tính thế hệ trẻ trước tệ nạn bạo lực gia đình.

Loading...

       Bất cứ ai đã từng đọc “Chiêc thuyền ngoài xa” chắc chắn sẽ không thể quên hình ảnh người đàn bà hàng chai, một nhân vật chính không thể thiếu trong việc thể hiện tư tương tác phẩm. Đây là một nhân vật được khắc họa sắc nét theo lối tương phản đối lập giữa bề ngoài xấu xí thô kệch với phẩm chất nhân hậu, vị tha, giữa thân phận quê muà, thất học với sự thấu hiểu sâu sắc lẽ đời.

      Người đàn bà hàng chai hiện lên qua cái nhìn của nhiếp ảnh Phùng. Trong một chuyến công tác về vùng biển thực hiện bộ ảnh lịch tết, anh đã bắt gặp một cảnh tượng thiên hiên hoàn mĩ có một không hai: “một bức tranh mực tầu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”. Thế nhưng sau chính cảnh đẹp toàn bích đó, cuộc sống con người hiện lên với bao nỗi cơ cực, đau khổ khiến trái tim Phùng như bị bóp nghẹt. Ở đó có người đàn ông vũ phu, có đứa trẻ vì bảo vệ mẹ mà đánh cha và có một người đàn bà với cuộc đời đầy đau khổ nhưng đầy đức hi sinh, vị tha.

       Nhân vật người đàn bà hàng chai hiện ra trong tác phẩm không có một cái tên riêng, chị được gọi bằng những danh từ chung phiếm chỉ khi thì là “người đàn bà hàng chai”, khi thì là “mụ”, có khi gọi là “chị”. Đây hoàn toàn là dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu. Ông muốn nói đến vô vàn những người phụ nữ ngoài kia, những người đang ngày ngày trải qua cuộc sống cơ cực, bần hàn, những nạn nhân nhỏ bé của cuộc sống, của bạo lực gia đình. Đồng thời, người phụ nữ vô danh ấy cũng đại diện cho một số phận đang bị vùi dập, bị lãng quên trong đau khổ.

       Người đàn bà hàng chài được miêu tả là một người phụ nữ xấu xí và thô kệch. Chị “trạc ngoài bốn mươi…, cao lớn với những đường nét thô kệch”, khuôn mặt rỗ vì bệnh đậu mùa. Thêm vào đó, những vất vả, truân chuyên của cuộc đời chài lưới, thường xuyên thức đêm kéo lưới khiến chị trông mệt mỏi và tái ngắt, lúc nào cũng như đang buồn ngủ.

       Bề ngoài xấu xí vốn dĩ là một cái khổ. Với người đàn bà hàng chài, nếu không phải “từ nhỏ đã là một đứa con gái xấu lại rỗ mặt” không ai hỏi thì cuộc đời chị có lẽ đã rẽ sang một hướng khác. Nhưng số phận đã định. Cuộc đời người đàn bà hàng chài là một chuỗi những nỗi khổ đau, cơ cực đầy bế tắc. Được sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng chị lại nên duyên với một người đàn ông chài lưới, bước vào cuộc sống lênh đênh trên biển. Kiếm sống bằng nghề chài lưới bấp bênh, lam lũ, con cái đông đúc , có khi “suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối…”. Cái đói, cái nghèo có lẽ không đáng sợ nếu người đàn bà nghèo khổ có một người chồng biết yêu thương và sẻ chia. Nhưng không, chồng chị lại là một người đàn ông vũ phu khiến cuộc sống của chị hoàn toàn rơi vào tăm tối cùng cực. Bị đánh một cách vô lí “bất cứ lúc nào thấy khổ quá là lão lôi tôi ra đánh”, những lần bạo lực xảy ra thường xuyên như “đàn ông thuyền khác uống rượu”. “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, đòn roi bạo lực của người chồng giáng xuống thân hình còm cõi, mỏi mệt của chị không thương tiếc. Không chỉ vậy, cũng chính người chồng đầu ấp tay gối ấy luôn dùng những lời lẽ nhiếc móc thậm tệ “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!” để nói với người đàn bà bất hạnh. Càng khổ hơn là một người chồng như thế nhưng chị lại không thể bỏ bởi chị cần một người đàn ông để chèo chống con thuyền và nuôi nấng những đứa con. Đó quả thực là một nỗi đau khổ bế tắc, đáng xót thương.

        Cuộc sống đau khổ, cay đắng là thế nhưng người đàn bà hàng chài không hề có ý định giải thoát mình khỏi người chồng vũ phu. Ở chị, ta thấy một con người cam chịu, nhẫn nhục đến câm lặng. Khi bị chồng dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng, người đàn bà “cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy”. Thậm chí chị chỉ dám ước “Giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ”. Con người ai không muốn có cuộc sống tốt đẹp. Chị có thể giải thoát mình khỏi bi kịch gia đình bằng cách li hôn. Khi nhân vật Đẩu, chánh án huyện đề cập đến chuyện được xem là quá mức hiển nhiên ấy, người đàn bà đã “chắp tay vái lia lịa”. Chị cầu xin tòa án “bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Tại sao chị lại sẵn sàng gánh chịu mọi đau khổ để cả đời gắn bó với một người chồng thô bạo, đánh đập mình không thương xót như vậy? Có thể nói, dù vì bất cứ lí do gì thì ít nhiều cũng bắt nguồn từ lối suy nghĩ thiển cận cố hữu của người nông dân quê mùa, cổ hủ trong người đàn bà hàng chài. Chị nghĩ “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn, cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như trên đất được”. Ngay cả cái cách mà người đàn bà hàng chài nói chuyện với Phùng và Đẩu ban đầu khi mới đến trụ sở tòa án huyện cũng cho thấy chị là người quê mùa, sợ sệt. Chị chỉ dám ngồi ở góc tường, khi được mời ngồi thì chỉ dám “rón rén” ngồi ở mép chiếc ghế và cố thu người lại. Khi chánh án nói, chị ngước lên nhìn rồi lại “cúi mặt xuống”, lại tự xưng là con…

        Đau khổ, thiển cận và cam chịu, đó là những gì chúng ta có thể cảm nhận về người đàn bà hàng chài. Nhưng đó lại không phải là tất cả con người chị. Ở chị có những phẩm chất tốt đẹp tiềm ẩn vô cùng đáng quý, đáng trân trọng. Chị là người phụ nữ  nhân hậu, vị tha, giàu đức hi sinh và thấu hiểu lẽ đời.

       Người đàn bà bị chồng đánh đập không thương xót nhưng lại luôn nghĩ cho chồng. Theo chị, việc gã đàn ông trút giận lên người mình bằng đòn roi tàn bạo là do cuộc sống khổ quá, cả do chị đẻ nhiều. Trong con mắt của người đàn bà hàng chài, chồng chị là người đàn ông “cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”. Dẫu đó là người đàn ông mà “cả nước không có gã đàn ông nào như hắn” thì người đàn bà vẫn luôn tìm lí do để biện minh, để thấu hiểu chồng mình. Ở chị, tấm lòng vị tha, nhân hậu cao hơn cả nỗi đau thể xác và những dằn vặt về tinh thần.

     Không chỉ có lòng bao dung, người đàn bà hàng chài còn là người vợ, người mẹ giàu dức hi sinh cao cả. Cuộc sống vất vả khổ cực, lại bị đánh “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người đàn bà không một lời than vãn, kể cả với những đứa con. Thậm chí, để chúng không phải nhìn thấy cảnh bố đánh mẹ, người đàn bà còn xin chồng “đưa tôi lên bờ mà đánh”. Chị muốn những hình ảnh bạo lực không biến thành vết đen làm thương tổn tâm hồn trong sáng của những đứa con thơ. Khi thằng Phác, con trai chị đánh lại bố để bảo vệ mẹ, chị “vái lạy nó” để ngăn cản. Là một người vợ, người mẹ, có lẽ chị là người không mong muốn nhất thấy cảnh con đánh cha. Nhưng hơn thế, ở trong chị là nỗi đau xót khi con trai phải chứng kiến cảnh bạo lực để rồi nó vì bênh mẹ lại cũng biến thành một kẻ bạo lực đáng sợ. Đức hi sinh ở người đàn bà hàng chài còn được thể hiện đậm nét trong suy nghĩ của chị. Trong khi hoàn toàn có thể giải phóng mình khỏi sự bạo lực của người chồng nhưng vì nghĩ cho những đứa con, chị vẫn gồng mình gánh chịu những trận đòn trút giận của chồng một cách vô cớ. Hạnh phúc của chị chính là ở những đứa con. Niềm vui lớn nhất cuộc đời chị là “ngồi nhìn đàn con tôi, chúng nó được ăn no”. Tấm lòng người mẹ nghèo, lạc hậu  quả là vĩ đại và cao quý biết bao.

        Người đàn hàng chài không giống những người như Phùng, như Đẩu, chị ít học nhưng chị lại có những suy nghĩ, hiểu biết sâu sắc của một người đàn bà từng trải, có cái nhìn mà chỉ người trong cuộc mới thấy. Có lẽ, chị sẽ không bao giờ thấy được vẻ đẹp nên thơ của bãi biển, của con thuyền mà gia đình mình đang sống nhưng chị lại nhìn ra được nguyên nhân làm lão chồng mình đổi tính trái nết (do cuộc sống khổ quá) để mà tha thứ. Không phải chị không biết chuyện gia đình mình làm cho người ngoài bất bình, nhưng liệu sự bất bình của họ có đem đến sự thay đổi nào cho cuộc sống của chị, cái lão đàn ông tàn bạo đó chị vẫn cần vì cuộc sống của những đứa con, vì chiếc thuyền trên biển cần người đàn ông chèo lái. Cái nhìn của chị gắn bó với thực tế: sự lo lắng cho số phận những đứa con, cho cuộc sống lênh đênh trên thuyền. Trong những chuỗi ngày đau khổ của mình, chị cũng biết chắt gạn những niềm vui nhỏ bé “ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ”, “vui nhất là ngồi nhìn các con tôi chúng được ăn no”. Không phải người đàn bà không mơ đến hạnh phúc, không biết đến nỗi khổ cực cùng tủi nhục của mình. Đằng sau cái sự “lạc hậu” mà người đàn bà tự biết là cả một sự thấu hiểu lẽ đời. “Nhưng tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc thấu hiểu lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài”.

        Trong tác phẩm, hình ảnh người đàn bà hàng chà đóng một vai trò vô cùng quan trọng để góp phần phản ánh cách nhìn mới mẻ cua nhà văn Nguyễn Minh Châu về con người và cuộc sống. Cuộc sống chứa đựng những mâu thuẫn thực tại không dễ dàng để giải quyết. Người đàn bà bị chồng bạo hành không phải đơn giản cứ li hôn hay gọi người chồng lên giáo dục là xong. Cái xấu, cái ác, cái thiển cận trong con người không phải cứ không thích là có thể loại bỏ được. Có vấn đề thuộc về cá nhân (người chồng) nhưng cũng có vấn đề thuộc về cái chung: chuyện miếng cơm manh áo, việc làm cho người lao động. Thực tế không thuận chiều như ta vẫn nghĩ bởi con người tồn tại trong những mối quan hệ đa chiều đầy phức tạp. Người phụ nữ giữa cuộc sống bươn trải đầy lam lũ, đắng cay, họ cam chịu nhẫn nhục nhưng không bởi họ kém hiểu biết mà bởi sự vị tha, đức hi sinh một lòng vì chồng vì con, bởi họ thấu hiểu cuộc sống của chính mình, biết mình cần gì và phải làm gì. Đó là nét đẹp muôn đời ở người phụ nữ Việt Nam mà không chỉ riêng có ở người đàn bà hàng chài.

         Gấp lại những trang viết đầy xúc cảm, có lẽ người đọc sẽ không thôi trăn trở về hình ảnh người phụ nữ với tấm lưng áo bạc phếch đầy miếng vá, khuôn mặt tái nhợt mỏi mệt. Đôi vai gầy gánh bao nỗi lo toan, bao trách nhiệm. Rồi cuộc sống của chị sẽ đi về đâu, liệu có tốt lên chăng hay sẽ mãi mãi mòn mỏi cả một đời. Nhưng có một điều luôn chắc chắn không bao giờ thay đổi đó là tấm lòng hi sinh cao cả, sự nhân hậu, bao dung đáng quý trong người đàn bà. Chị đáng thương và cũng đáng yêu, đáng trân trọng vô cùng.

Loading...

Check Also

Phan-tich-nhan-vat-co-Hien-trong-Mot-nguoi-Ha-Noi

Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội

Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội Bài làm “Chẳng thơm …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *