Home / SOẠN VĂN / Soạn văn lớp 8 / Soạn bài Ông đồ của Vũ Đình Liên

Soạn bài Ông đồ của Vũ Đình Liên

Soạn bài Ông đồ của Vũ Đình Liên

Bài làm

Câu 1. Phân tích hình ảnh ông đồ ngồi viết chữ nho ngày Tết trong hai khổ thơ đầu và hình ảnh của chính ông ở khổ 3, 4. Hãy so sánh để làm rõ sự khác nhau giữa hai hình ảnh đó. Sự khác nhau này gợi cho người đọc cảm xúc gì về tình cảnh ông đồ?

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Loading...

Bày mực Tàu, giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài:

“Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa, rồng bay”

Hai khổ thơ đầu đã tái hiện hình ảnh ông đồ trong những ngày Tết xưa, khi mà mọi người còn có cái thú vui nho nhã đó là chơi chữ. Những ngày tháng ấy, khách của ông đồ rất đông, người ta cũng trân trọng cái tài của ông, người người ngắm chữ, xem ông viết, khen ngợi đàm đạo về những con chữ.

Có thể thấy trong bối cảnh ấy, Nho học đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống tinh thần của mọi người, mọi nhà. Đồng thời những nhà nho như ông đồ cũng được trọng dụng, hình ảnh của ông đồ vẫn còn thân quen trong cuộc sống.

Thế nhưng ngày nay thì sao, ông đồ vẫn ngồi đó nhưng tình cảnh đã khác:

“Nhưng mỗi năm mỗi vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu…

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay

Thời thế thay đổi, người chơi chữ, thưởng chữ càng ngày càng ít đi. Ông đồ vẫn ngồi đó nhưng hình ảnh lại tựa như ở dĩ vãng. Không có khách hàng, người thuê viết vắng vẻ, giấy mực khô đọng và im lìm nằm đó không có người qua lại. Sự có mặt của ông dường như là vô hình mà người người không quan tâm để ý. Con người dường như trở thành một nỗi niềm hoài niệm xa xăm, là diễm xưa trong một xã hội mới.

Sự đối lập, khác nhau đối lập giữa hai hoàn cảnh của ông đồ cho thấy tình cảnh đáng thương của ông. Đã từng là hình ảnh vàng son là một nét trân quý của thú vui ngày Tết xong giờ đây ông đồ dường như đang bị lãng quên, những con chữ của ông cũng chỉ còn là dĩ vãng và không còn được trọng dụng như trước. Hình ảnh ông và sự nghiệp của mình chỉ còn là một nét đẹp xưa cũ.

Câu 2. Tâm tư của nhà thơ thể hiện qua bài thơ như thế nào?

Thông qua quan sát và cách nhìn nhận của tác giả, có thể thấy được phần nào tâm tư của nhà thơ. Đó là sự hoài niệm, niềm xót xa trân trọng của nhà thơ dành cho ông đồ và sự nghiệp của ông. Nhà thơ đã miêu tả:

“Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?”

Câu thơ bày tỏ nỗi niềm hoài niệm của nhà thơ, đặc biệt là câu hỏi tu từ xuất hiện như một lời oán trách nhẹ nhàng sự vô tâm, vô cảm của con người mải chạy theo những hào hoa phù phiếm mà lãng quên quá khứ, bỏ qua những giá trị tốt đẹp của dân tộc.

Tác giả đồng thời thể hiện niềm xót thương cho ông đồ, những con người đã từng là biểu tượng, là nét đẹp văn hóa nho giáo một thời của cả dân tộc giờ đây lại ngồi đó lặng lẽ người qua lại không ai ngó ngàng. Những con chữ mà ông đồ đem lại cũng là một giá trị truyền thống văn hóa lâu đời mà xã hội đã từng rất trân trọng. Chính vì vậy, giờ đây tác giả mới ai oán khi nghĩ về nó.

Soan-bai-Ong-do-cua-Vu-Dinh-Lien

Câu 3. Bài thơ hay ở những điểm nào? (Gợi ý: cách dựng hai cảnh cùng miêu tả ông đồ ngồi viết thuê ngày Tết bên phố nhưng rất khác nhau gợi sự so sánh, những chi tiết miêu tả đầy gợi cảm; sử dụng thể thơ năm chữ và ngôn ngữ giản dị mà cô đọng, nhiều dư vị…)

Bài thơ Ông đồ là một bài thơ đặc sắc ở rất nhiều mặt: nhà thơ đã dựng lên hình ảnh ông đồ trong hai bối cảnh khác nhau, ở hai thời điểm khác nhau tại cùng một nơi nhưng vị thế của ông đồ đã hoàn toàn thay đổi. Phép so sánh giữa hai hình ảnh đó đã làm nổi bật sự đối lập giữa hai thời đại và thái độ của con người đối với ông đồ.

Các hình ảnh miêu tả đầy sức gợi cảm biểu đạt được sử dụng như: giấy đỏ, mực, bút nghiên, lá vàng đã gợi lên sự hiu hắt của cảnh tượng cho chữ và hình ảnh ông đồ ngồi đó.

Thể thơ năm chữ nhịp nhàng, giản dị và gần gũi với người đọc. Ngôn ngữ tác giả sử dụng vô cùng giản dị, gần gũi không phải là những ngôn từ văn học trừu tượng mà là lời lẽ bình dị, mộc mạc, gắn bó với đời sống hang ngày nhưng cô đọng, nhiều dư vị.

Câu 4. Phân tích để làm rõ cái hay của những câu thơ sau:

Giấy đỏ buồn không thắm;

Mực đọng trong nghiên sầu…

Lá vàng rơi trên giấy;

Ngoài giời mưa bụi bay.

Các câu thơ đã sử dụng những vật dụng than thiết, gắn bó với công việc của ông đồ đó là giấy, mực, lá vàng, và cơn mưa bụi. Các vật dụng đều được nhân hóa trở nên có tâm trạng và cảm xúc của một con người. Tất cả cảnh vật dường như cũng đều buồn bã, sầu bi, tiếc thương cho hoàn cảnh của ông đồ. Sự cô đơn, vắng lặng khiến chúng dần mất đi vẻ đẹp của mình, chỉ còn là những vật dụng cô đơn lẻ loi và buồn bã cùng với ông đồ.

>>> Xem thêm:

Loading...

Check Also

Soan-bai-Tuc-canh-Pac-Bo-cua-Ho-Chi-Minh

Soạn bài Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh

Soạn bài Tức cảnh Pác Bó của Hồ Chí Minh Bài làm Câu 1. Bài thơ …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *