Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích tình huống truyện độc đáo trong Vợ nhặt cuả Kim Lân

Phân tích tình huống truyện độc đáo trong Vợ nhặt cuả Kim Lân

(Soạn văn lớp 12) Em hãy phân tích tình huống truyện độc đáo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Bài phân tích văn của bạn Nguyễn Thị Phương Anh )

Đề bài: Phân tích tình huống truyện độc đáo trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân

BÀI LÀM

      Nhà văn Kim Lân, trong suốt sự nghiệp của mình, dù sáng tác không nhiều nhưng đã để lại những tác phẩm giá trị, gây ấn tượng sâu sắc với nhiều thế hệ độc giả. “Vợ nhặt” chính là một tác phẩm như thế. Trong truyện ngắn này, Kim Lân đã sáng tạo một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Đó là tình huống anh cu Tràng-người đàn ông vừa nghèo, vừa xấu lại là dân ngụ cư, giữa lúc đói khát vật vã lại lấy được vợ. Chính nhờ tình huống đầy éo le ấy, khát vọng sống của những người cùng khổ đã được bộc lộ một cách bi hài. Có thể nói, thành công của việc xây dựng tình huống truyện đã góp phần đặc biệt quan trọng đem lại sức sống, sự lôi cuốn cho truyện ngắn “Vợ nhặt”

Loading...

     “Vợ nhặt” lấy bối cảnh là nạn đói Ất Dậu 1945. Kim Lân không phải người đầu tiên viết về cái đói, về những người nông dân khốn cùng bị cái đói dồn đến chân tường. Nhưng nếu như các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nam Cao… viết về cái đói làm ta thương cảm, xót xa thì đến Kim Lân, cái đói hiện hình thành cái chết khiến người đọc kinh hãi. Đọc “Vợ nhặt” đem lại cho người đọc cảm giác như đang trải nghiệm thế giới âm u, nồng đậm mùi tử khí. Cái chết hiện hình thành những xác người nằm còng queo bên đường. Cái chết ẩn hiện sau gương mặt xanh xám của những người sống . Cái chết luẩn quẩn trong không khí với “mùi gây của xác người, mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết”. Cái chết cũng hiện ra trong âm thanh thê thiết của tiếng quạ kêu trên cây gạo, tiếng hờ khóc tỉ tê như “vẳng lên từ cõi âm”. Cuộc sống tăm tối như trong địa ngục mà hoàn toàn không có lối thoát. Cái chết bao vây cuộc sống con người tưởng như bất cứ lúc nào cũng có thể sẵn sàng cướp đi sinh mạng của bất cứ ai. Ranh giới giữa sự sống và cái chết gần như bị xóa nhòa. Những người sống như đang đứng bên bờ vực mấp mé địa ngục.

      Giữa khung cảnh u ám đó, Tràng, một người vừa xấu xí, thô kệch lại là dân ngụ cư nghèo bần cùng mạt hạng vậy mà bỗng dưng “nhặt” được vợ. Đây là một tình huống vừa hài hước vừa bi ai xuyên suốt mạch truyện.

      Nhân vật Tràng được khắc họa là một người đàn ông có ngoài hình xấu xí với “hai con mắt nhỏ tí”, “quai hàm bạnh ra”. Không những thế, Tràng còn là kẻ dở hơi, có tật “vừa đi vừa nói…lảm nhảm, than thở những điều hắn nghĩ”, thỉnh thoảng “ngửa cổ lên cười hềnh hệch”. Lời ăn tiếng nói của Tràng thì thô kệch, cộc cằn như chính bề ngoài của anh ta. Tràng nói chuyện với phụ nữ cũng không để ý tế nhị, khi thì “rich bố cu”, khi lại “làm đếch gì có vợ”. Anh ta còn chửi cả những con chó “mẹ bố chúng mày”. Thêm vào đó, gia cảnh của Tràng lại vô cùng khốn khó: Cha mất, mẹ già, là dân ngụ cư, đẩy xe bò thuê kiếm sống. Một người không có gì nổi trội từ ngoại hình, tính cách đến hoàn cảnh gia đình như Tràng đã định sẵn không khi nào được lòng các cô gái, Tràng “ế vợ” gần như là một sự thật hiển nhiên. Ấy thế mà Tràng lấy vợ. Một buổi chiều, Tràng dẫn theo một người đàn bà về xóm ngụ cư, giữa bầu không khí chết chóc, ngập mùi tử khí.

       Việc lấy vợ của Tràng là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt. Gặp năm đói khủng khiếp, người người lo bảo toàn bản thân trước sự rình rập của thần chết. Khoảng cách mong manh của sự sống và cái chết giành giật nhau quanh cái ăn. Lo cho thân mình không nổi, không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện lấy vợ để chuốc thêm một gánh nợ đời. Tràng nhặt vợ là nhặt thêm một miệng ăn, nhặt thêm tai họa, gánh nặng cho mình, đẩy mình đến gần hơn với cái chết. Chính vì vậy, việc lấy vợ của tràng đem đến sự ngạc nhiên lạ lùng cho tất cả mọi người. Đầu tiên là những người dân xóm ngụ cư. Thấy Tràng dẫn theo sau một người đàn bà. Họ vô cùng tò mò, thậm chí ngay từ đầu họ vốn không nghĩ đến khả năng người đàn bà là vợ Tràng mà chỉ cho rằng “Hay là người nhà dưới quê cụ Tứ mới lên”. Đến khi lờ mờ đoán ra cơ sự, mọi người mừng cho Tràng nhưng có lẽ lo lắng cho anh ta nhiều hơn “ Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không”. Ngay cả bà cụ Tứ, mẹ Tràng cũng ngạc nhiên không kém. Khi nghe người đàn bà chào mình bằng “u”, hàng loạt câu hỏi xoay quanh tâm trí bà “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?” Trong thâm tâm người mẹ nghèo, bà hiểu hơn ai hết hoàn cảnh của con trai mình. Lại giữa lúc đói khát, mẹ con bà còn không chắc nuôi nổi mình, bà cụ càng không thể nghĩ đến việc con mình lấy vợ. Đến khi hiểu ra, bà cụ cũng giống như tất cả mọi người, bà lo lắng “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không? Chính bản thân Tràng cũng ngạc nhiên với hạnh phúc của mình: “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ”. Thậm chí, sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết sửng sốt, ngạc nhiên “việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải”.

        Tình huống Tràng lấy vợ được xây dựng tuy bất ngờ nhưng lại rất hợp lí. Nếu không phải giữa năm đói khủng khiếp ấy thì nào có ai chịu lấy đến Tràng. Tràng cũng làm gì có vợ. Vả lại, vì đói nghèo, Tràng lấy vợ cũng không cưới treo gì. Tràng nhặt được vợ, còn người vợ thì theo không anh Tràng. Nghịch lý chính là ở chỗ, khi tất cả mọi người đều đang lo thân không xong thì tràng lại lấy vợ, tự chuốc thêm gánh nặng cho mình.

       Ngoài ra, sự độ đáo  của tình huống truyện ở đây còn được thể hiện qua nghịch cảnh trong “đám cưới” kì lạ của Tràng. Người Việt Nam ta quan niệm đời người có ba việc lớn đó là “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà”. Việc dựng vợ gả chồng vì thế được thực hiện long trọng theo những lễ nghi đặc biệt chu toàn và kĩ lưỡng từ sính lễ, dạm ngõ, ăn hỏi, đến kết hôn. Vậy mà “đám cưới” của Tràng thì hoàn toàn ngược lại. Tràng lấy vợ như nhặt một món đồ bỏ, đồ rơi ngoài đường rất tùy tiện và chóng vánh, chỉ bằng hai lần gặp gỡ, bốn bát bánh đúc và một câu nói đùa. Cái đói dồn đuổi, bức ép khiến người đàn bà ở lần thứ hai gặp Tràng đã sỗ sàng đòi ăn “Ăn gì thì ăn chả ăn giầu”. Rồi chỉ vì đói mà người đàn bà tội nghiệp ngồi xuống ăn luôn và “ăn liền một chập bốn bát bánh đúc”. Sâu đó, chỉ bằng câu nói nửa đùa nửa thật của Tràng “này nói đùa chứ, có về ở với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về”. Cái đói đã bóp méo nhân phẩm, thể diện con người đến mức thảm hại khiến cho một người đàn bà có thể vứt bỏ tự tôn cùng liêm sỉ theo không một người đàn ông xa lạ. Giá trị con người bị rẻ rúng đến đáng thương. Con đường “đón dâu” cũng thật đặc biệt khi chỉ có hai người côi cút trong buổi chiều chạng vạng. Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới đạm bạc đến sơ sài với “bát cháo loãng nhạt thếch” và nồi chè khoán (mà thực chất là cháo cám) đắng chát, nghẹn bứ nơi cổ họng. Cuộc sống với vô vàn mối lo sợ, chông chênh đã cướp đi hết thảy ước mơ, hạnh phúc , khát vọng của người, dù đó có là hạnh phúc vô cùng nhỏ bé, giản đơn.

       Đăt nhân vật vào tình huống trớ trêu, éo le, Kim Lân đã cho chúng ta thấy những chua xót của cuộc đời và số phận con người từ đó làm nổi bật giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm. “Vợ nhặt” đã lên tiếng tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân phát xít bóp nghẹt cuộc sống con người, đẩy những người lao động nghèo khổ đến bước đường cùng, cướp đi quyền sống và hạnh phúc tất yếu của con người. Bên cạnh đó, cũng thông qua tình huống truyện, nhà văn hướng tới ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp và sức sống mãnh liệt trong những con người thấp cổ bé họng. Độc giả có lẽ sẽ không bao giờ quên một anh cu Tràng với lòng nhân ái cao cả dù nghèo đói, lo thân không nổi vẫn sẵn sàng cưu mang một người đàn bà xa lạ, với khát vọng hạnh phúc, tình yêu chân chính, muốn lấy vợ, sinh con, chăm lo cho gia đình.Chúng ta cũng sẽ nhớ mãi người vợ nhặt vì khao khát được sống mà sẵn sàng vứt bỏ lòng tự trọng bám víu lấy một người đàn ông xa lạ, nhưng khi cái đói tạm qua đi, ở thị lại toát lên vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống: e thẹn, tế nhị, đảm đang và hiền hậu. Đặc biệt, nhân vật bà cụ Tứ, mẹ chàng càng khiến ta không khỏi rung rung xúc động với hình ảnh một người mẹ nghèo hiền hậu, hết lòng vì con cái. Bà cụ không hề khinh miệt người phụ nữ đã theo không con mình mà còn tỏ ra thương xót, biết ơn người đàn bà “gặp lúc khó khăn mới lấy đến con mình,mà con mình mới có vợ”. Không những thế, bà cụ còn liên tục gieo vào lòng các con hi vọng về ngày mai tươi sáng với những tính toán cho tương lai từ lợn gà, vườn tược đến “biết đâu ông giời cho khá”.

        Tình cảm yêu thương, đùm bọc nhau của những con người cùng khổ khi cái đói, cái chết đang rình rập là phần đẹp đẽ nhất trong mỗi nhân vật của Kim Lân. Qua đó, nhà văn đi tới kết luận: Những phẩm chất tốt đẹp của con người không bao giờ bị hủy diệt. Cùng với đó, Kim Lân muốn truyền đi một thông điệp giàu tính nhân văn đó là “Hãy tin ở con người”.

        Như vậy, với việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo, có một không hai về cái sự “nhặt” vợ đầy bất ngờ và bi hài, Kim Lân đã cho thấy cuộc sống tăm tối, đau khổ thậm chí đến mức phải bán rẻ nhân phẩm của những người lao động nghèo. Thông qua đó, nhà văn thể hiện tình cảm xót thương, trân trọng với những vẻ đẹp cao cả khuất lấp trong tâm hòn con người về tình thương, sự sẻ chia và khát vọng sống mãnh liệt. Cũng một lần nữa, với tình huống truyện đầy lôi cuốn và gợi cảm, chúng ta càng tin tưởng, khâm phục tài năng nghệ thuật đỉnh cao cũng như vị trí vững chắc cuả Kim Lân trong nền văn xuôi Việt Nam.

>>> Xem thêm:

Loading...

Check Also

Phan-tich-nhan-vat-co-Hien-trong-Mot-nguoi-Ha-Noi

Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội

Phân tích nhân vật cô Hiền trong Một người Hà Nội Bài làm “Chẳng thơm …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *