Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

Phân tích nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

(Soạn văn lớp 11) Phân tích nghệ thuật trào phúng trong tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia của tác giả Vũ Trọng Phụng (Bài phân tích văn của bạn Trần Hoài Thương, học sinh giỏi THPT Chuyên Bắc Giang)

Đề bài: Phân tích nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia – Vũ Trọng Phụng
BÀI LÀM

      Vũ Trọng Phụng là một nhà văn lớn có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam thế kỉ XX với rất nhiều kiệt tác.Tuy nhiên, để nói về mảng văn học mà nhà văn thành công gây tiếng vang nhất có lẽ là tiểu thuyết trào phúng. Và tất nhiên, nói đến văn chương trào phúng không thể không kể đến “Số đỏ” (1936). Giới phê bình văn học một thời cho rằng “Số đỏ” là “lời nguyền rủa chua cay, độc địa cái xã hội thối nát”, một tiểu thuyết “tả chân đến tàn ác”, “trào phúng đến chua xót”. Chúng ta cùng nhau đi tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” để phần nào thấy được tư tưởng và tài năng trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng.

Loading...

       Nghệ thuật trào phúng là nghệ thuật tạo nên tiếng cười mang ý nghĩa phê phán. Trong nghệ thuật trào phúng, nhà văn thường sử dụng thủ pháp phóng đại để tô đậm, làm nổi bật mâu thuẫn khiến cho đối tượng càng trở nên đáng cười. Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” được thể hiện đậm nét chủ yếu qua các mâu thuẫn trào phúng, nhân vật và giọng điệu trào phúng.

      Một nhà văn trào phúng tài năng là người có cái nhìn sắc sảo, phát hiện ra những mâu thuẫn trào phúng, dựng nên những tình huống trào phúng độc đáo. Trong nghệ thuật trào phúng, cùng với việc xây dựng mâu thuẫn trào phúng nhà văn thường sử dụng thủ pháp phóng đại để tô đậm, làm nổi bật mâu thuẫn khiến cho đối tượng càng trở nên đáng cười.

      Trước tiên, chúng ta cùng nhìn về mâu thuẫn trào phúng lớn nhất cũng chính là tình huống bao quát toàn bộ đoạn trích, được thể hiện rất rõ qua nhan đề “hạnh phúc của một tang gia” (người biên soạn đặt). “Hạnh phúc” và “tang gia” đây là hai từ thuộc hai trường nghĩa mang sắc thái hoàn toàn trái ngược nhau. Nhắc đến tang gia (nhà vừa có người thân mất), theo tâm lý thông thường người ta sẽ liên tưởng đến một bầu không khí sầu não, bi thương , mất mát bao trùm gia đình. Thế nhưng ở đây, trước sự ra đi của cụ cố tổ, đám con cháu lại không hề đau đớn, xót thương. Ngược lại, cái chết của cha ông khiến cho từng người trong đại gia đình vô phúc ấy hạnh phúc tột cùng. Nói theo cách của Vũ Trọng Phụng thì: “Tang gia ấy ai ai cũng vui vẻ cả hoặc cái chết ấy làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Tình huống trào phúng đã phản ánh một sự thật đẩy mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn khiến độc giả không khỏi bật lên tiếng cười đầy chua chát.  Tại sao tình người, tình thân, tình máu mủ ruột rà lại có thể biến chất đến mức rẻ rung, vô nhân đạo như vậy?  Đó là bởi toàn bộ trên dưới cái gia đình đại bất hiếu kia đang đợi “cụ cố tổ chết cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì thực hành chứ không còn lí thuyết viễn vông nữa” và chúng sẽ được chia nhau khối tài sản kếch sù.

     Mâu thuẫn trào phúng không chỉ được thể hiện qua nhan đề, tình huống đoạn trích mà còn được khắc họa qua đám tang của cụ cố tổ. Thay cho âm điệu bi thương, lặng lẽ, buồn bã vốn có của một đám tang thông thường, đám tang cụ cố tổ được lũ con cháu tổ chức hoành tráng, tưng bừng và vô cùng náo nhiệt. Đó là một đám ma “theo cả lối Ta, Tàu, Tây, có kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, cho đến lốc bốc soảng và bú dích, và vòng hoa, có đến ba trăm câu đối, vài trăm người đi đưa…những nhà tài tử chụp ảnh đã thi nhau như ở hội chợ. Thật là một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!”. Bề ngoài, đám tang được tổ chức có vẻ long trọng, “gương mẫu” nhưng thực chất lại là một đám rước nhố nhăng, khôi hài. Những người đi đưa đám không mang theo sự tiếc thương, thành kính với người đã khuất. Họ trò chuyện về nhà cửa, vợ chồng, con cái, tất cả đang mải bình phẩm, chê bai lẫn nhau, tình tự, chim chuột, hẹn hò nhau bằng cái vẻ mặt buồn buồn lãng mạn rất đúng mốt. Nghệ thuật trào phúng đã lột trần bộ mặt giả tạo, đóng kịch của giới tri thức rởm đời, sự suy đồi đạo đức của nền văn minh Âu hóa. Tác giả khai thác những yếu tố mâu thuẫn để gây cười, cái cười phê phán đầy mỉa mai châm biếm về một xã hội thực dân thu nhỏ với tất cả sự đồi bại, xuống dốc của đạo lý và nhân cách con người, đó là lời tố cáo của tác giả đối với xã hội đương thời.

      Trong đoạn trích, trong cảnh hạ huyệt, hình ảnh cậu Tú tân bắt mọi người phải đóng kịch để chụp hình “người phải chống gậy, gục đầu, người phải lau nước mắt…” hay hình ảnh ông Phán oặt người đi, khóc thảm thiết trên tay Xuân không khỏi khiến độc giả bật cười chua chát. Cậu Tú háo hức phô phang, khoe mẽ  cái văn minh Tây học. Còn ông Phán giữa lúc xót thương cao độ là lúc ông ta tranh thủ  thanh toán song phẳng số tiền thuê xuân. Khung cảnh đầy tang thương mất mát bỗng biến thành sân khấu của các diễn viên hề kịch kiệt xuất. Ở đó, người ta sắm vai thành đám con cháu chí hiếu, chí tình. Nước mắt, vẻ ưu thương là bày ra cho thiên hạ chiêm ngưỡng, trầm trồ tán thưởng.

     Bên cạnh việc đi sâu khắc họa các mâu thuẫn trào phúng, để phơi bày, chế nhạo bộ mặt xấu xa, trụy lạc, lừa dối của lối sống tư sản thành thị, Vũ Trọng Phụng đã đi vào khắc họa nhiều nhân vật trào phúng.

     Trước cái chết của cha – máu mủ, ruột thịt, cụ cố Hồng người đáng lẽ phải đau buồn nhất, ưu thương nhất chỉ quan tâm làm sao để được người đời khen ngợi, xuýt xoa, làm sao để dàn xếp êm xuôi cho cô con gái hư hỏng bảo toàn danh tiếng gia đình. Cụ “mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: – Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa!”. Câu cửa miệng của cụ cố Hồng là “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi” mặc dù thực chất cụ chẳng biết gì. Mà thực ra, cụ cũng không quan tâm cụ cần phải biết những gì. Ngay cả cái việc chuẩn bị cho cha một lễ tang long trọng với cụ cũng trở thành phương tiện để diễn xuất để “ai cũng phải ngợi khen một cái đám ma như thế”. Trò diễn lố lăng của cụ cố Hồng trước đám đông là tiêu biểu cho kiểu người háo danh đến mức vô tình, bạc nghĩa.

     Ông Văn Minh, con trai cụ cố Hồng, thì lại quan tâm đến một vấn đề thiết thực hơn hẳn. Văn Minh nôn nóng mời luật sư đến chứng kiến cái chết của ông nội để cái chúc thư kia nhanh chóng “đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lý thuyết viển vông nữa”. Thậm chí, ông ta coi Xuân Tóc Đỏ là người đưa đến cho ông cái ơn to vì “đã tình cờ gây ra cái chết của ông cụ già đáng chết”. Chúng ta chẳng thể nào tìm thấy trên mặt ông cháu đích tôn một giọt nước mắt hay một tia xót thương. Có thể thấy, dưới ngòi bút Vũ Trọng Phụng, Văn Minh hiện lên là một kẻ bất hiếu và đầy dã tâm. Ông ta có thể sẵn sàng vì lợi ích vật chất mà bán rẻ tình thân, ruột thịt. Còn vợ ông ta, bà Văn Minh lại tỏ ra hết sức sốt ruột và vui mừng diện “bộ đồ xô gai tân thời”. Đám tang đối với bà phút chốc trở thành sàn diễn thời trang để bà có dịp lăng xê những mẫu trang phục hở hang, “hợp thời” của tiệm may Âu hóa. Cái niềm vui của bà trong con mắt độc giả trở nên thực dụng, lố bịch và thiếu tình người.

     Cô Tuyết thì được dịp diện bộ trang phục ngây thơ đến mức lố lăng nhất với “cái áo dài voan mỏng, trong có coóc-sê , trông như hở cả nách và nửa vú” để thiên hạ biết rằng mình chưa đánh mất chữ trinh. Khôi hài hơn, vẻ mặt buồn lãng mạn vì “bạn giai chưa đến” của cô ta lại “rất đúng mốt nhà có đám”. Tất cả những gì chúng ta có thể thấy ở chân dung cô Tuyết ngây thơ là một đứa con gái hư hỏng, lẳng lơ và lả lướt. Không chút lòng thành kính, không một chút bi thương, Tuyết coi đám tang ông nội mình là nơi để hò hẹn, trai gái. 

     Còn cậu Tú tân thì sướng “điên lên” vì nhờ cái chết của cụ cố tổ, cậu ta có dịp sử dụng mấy cái máy ảnh đã sẵn sàng mà chưa dùng đến. Đó là niềm vui con trẻ, thể hiện sự kém hiểu biết của một thanh niên gắn mác Tây học. Với một người khác là ông Phán mọc sừng thì ông ta lại vô cùng hạnh phúc vì nhờ cái sừng vô hình trên đầu, ông ta được cụ cố Hồng hứa cho thêm một số tiền. Nếu xét theo tâm lý một người đàn ông bình thường, việc bị vợ cắm sừng là một sự sỉ nhục khó tha thứ thì với ông Phán mọi thứ chẳng hề gì vì nhờ đó ông ta có them vài nghìn đồng. Qua đó, ta có thể thấy bộ mặt vô liêm sỉ, không nhân cách của nhân vật này.

         Người trong nhà không một ai tỏ ra đau buồn trước sự ra đi của cụ cố tổ thậm chí hoan hỉ, vui mừng. Vậy còn những người ngoài thì sao, có ai thương xót, trân trọng người đã khuất? Câu trả lời Vũ Trọng Phụng giành cho chúng ta là không ai cả. Xuân Tóc Đỏ thì vô cùng mãn nguyện bởi sau cái chết của cụ cố tổ, danh tiếng của Xuân càng được nâng cao. Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa “sung sướng cực điểm” vì đang thất nghiệp được thuê dẹp trật tự cho đám đông. Bạn bè cụ cố Hồng thì có dịp phô trương đủ thứ huân, huy chương, các kiểu quần áo, đầu tóc, râu ria…Còn đám phụ nữ quý phái, đám trai thanh gái lịch thì có dịp tụ tập để khoe khoang, hẹ hò nhau, chim chuột nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau…

      Qua việc xây dựng chân dung các nhân vật trào phúng, Vũ Trọng Phụng đã thành công phơi bày sự suy đồi về đạo lý, sự tha hoá về nhân cách con người trong xã hội. Tình người trở thành một thứ lạ lẫm, xa xỉ đối với con người. Họ đua nhau chạy theo những giá trị vật chất, những khát vọng thể xác, những thứ văn minh rởm đời để buông mình vào lối sống thực dụng, chai lì xúc cảm. Trước cái chết của một con người, con cháu ruột thịt trong gia đình đến những người ngoài đều coi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc khôn tả. Khôi hài mà cũng thật đáng xót xa.

     Ngoài ra,  để góp phần vào thành công của nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích, không thể không kể đến giọng điệu, ngôn từ trào phúng được nhà văn sử dụng nhuần nhuyễn, tài tình. Vũ Trọng Phụng sử dụng giọng kể dửng dưng, giễu cợt, đầy châm biếm. Thông qua việc sử dụng ngôn từ, câu chữ đối lập với giọng điệu, những hình ảnh, nhân vật, khung cảnh được sử dụng hiện lên hết sức mỉa mai, hài hước. Trước sự trông mong, sốt ruột của đám con cháu, “ông già hơn tám mươi tuổi phải chết một cách bĩnh tĩnh”.  Bầy con cháu “chí hiếu”  chỉ “nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết cụ tổ”. Ngay cả tiếng khóc cũng được tác giả nhại lại đầy sự châm biếm: Hứt!.. Hứt… Hứt! nghe thật buồn cười mà cũng thật đau đớn. Đặc biệt, việc sử dụng điệp khúc “đám cứ đi…” như một sự khẳng định của Vũ Trọng Phụng rằng cái trò diễn khôi hài sẽ vẫn cứ tiếp diễn, tiếp diễn không điểm dừng.

     Tóm lại, thông qua nghệ thuật trào phúng, Vũ Trọng Phụng đã phanh phui bản chất giả dối, nhố nhăng, hết sức thối nát và bất nhân của xã hội trưởng giả thành thị và xã hội tư sản Việt Nam đương thời. Tiếng cười Vũ Trọng Phụng mang đến là tiếng cười chua chát, có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Nhà văn đứng về phía những kẻ nghèo khổ, lầm than để lên án, công kích thói ăn chơi sa đọa của những kẻ có tiền, có quyền trong xã hội. Đó là cái nhìn tiến bộ, tích cực, phù hợp với tình cảm và thái độcủa đông đảo quần chúng.

     Với việc xây dựng chân dung, tình huống mâu thuẫn trào phúng thông qua hệ thống ngôn ngữ, giọng điệu sắc bén, gây cười đã cho thấy cái tài tình của bậc thầy trào phúng Vũ Trọng Phụng. Đoạn trích là tiếng cười phê phán, châm biếm sâu cay xã hội chó đểu vô nhân. Dưới ngòi bút của mình, ông biến xã hội ấy thành miếng đất tốt cho cái ác, cái xấu, cái đểu, cái giả dối phát triền. Hoặc không nó cũng là môi trường làm tha hóa, thui chột bản chất tốt đẹp của con người.

>>> Xem thêm:

Loading...

Check Also

Phân tích tình huống truyện độc đáo trong Vợ nhặt cuả Kim Lân

(Soạn văn lớp 12) Em hãy phân tích tình huống truyện độc đáo trong truyện …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *